Diễn đàn Sachxua.net
24/04/2014, 07:04:05 *
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát
Tin tức:
 
   Trang chủ diễn đàn   Trợ giúp Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1] 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Triết học là gì?  (Đọc 4481 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« vào: 10/03/2012, 23:45:13 »
Logged

Đây là 1 đề tài rất rộng, tôi biết trên diễn đàn này có rất nhiều người giỏi về triêt học nên muốn triển khai về vấn đề này, làm sân chơi cho các chuyên gia và những người yêu thích triết học, yêu thích chân lý.

Có một định nghĩa của 1 vị đại sư về triết học như sau:

" Triết học chỉ là một hệ thống ngôn ngữ phức tạp nói về những điều rất giản đơn". Có nghĩa là vấn đề chẳng có gì nhưng được mô tả bằng hệ thống từ chuyên môn dao to búa lớn làm đau đầu nhức óc. Và hình như các triết gia càng sử dụng từ chuyên môn khó hiểu thì mới thể hiện được đẳng cấp của mình chăng?"

Sách vở thì định nghĩa triết học như thế này " Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy"

Từ định nghĩa này sẽ nảy sinh các vấn đề như sau:

- Vì nghiên cứu và giải quyết các vấn đề chung nên kết quả của nó sẽ ko có tác dụng thiết thực?

 Xét cho cùng, triết học từ khi mới nảy sinh cho đến nay, dù ở Đông phương hay Tây phương, dù là thuộc trường phái nào thì nội dung của nó cũng chỉ là những lí luận chung nhất.

- Triết học ko có những phương pháp cụ thể như nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên khác nên tính chân lý của nó ko được đảm bảo cho lắm

Và như vậy,nó đóng vai trò gì cho cuộc sống? thỏa mãn tri thức chăng? hay giải trí? nếu Phật học được vận dụng triệt để vào cuộc sống thì sự vận dụng của triết học là như thế nào?

Và làm thế nào để biết được một hệ thống triết học là đúng hay sai? có quan điểm cho rằng phải dựa vào đám đông, nhưng lịch sử đã chứng minh rằng, đám đông chưa hẳn là đúng. Và rồi sự tranh cãi giữa các hệ thống triết học với nhau sẽ mang lại kết quả gì cho con  người? hay nó chỉ là các sinh hoạt của đời sống trí thức tại giảng đường đại học? cho các tạp chí triết học thu hút thêm độc giả?

Krishnamurti nói rằng ông ta chẳng cần phải đọc bất kì q sách Triết nào, nhưng sau nhiều năm thuyết giảng, thế giới vẫn công nhận ông ta là nhà tư tưởng lớn nhất của thế kỉ 20?

Vậy ta học triết để làm gì? có ứng dụng được gì cho thực tế cuộc sống hay ko?

Bài viết đầu tiên này chỉ mới là công việc đặt vấn đề mà thôi.......

Đối với bài viết này, 3 thành viên cảm ơn!

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« Trả lời #1 vào: 12/03/2012, 16:48:48 »
Logged

I. Định nghĩa của triết học- chuyện xưa nhưng luôn luôn mới

Triết học, một môn khoa học được hình thành từ rất sớm mà chiếc nôi của nó phải nói đến Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ và Trung Quốc.

- Ở Trung Quốc được gọi là Triết nghĩa là Trí Tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người và thế giới. Chữ Triết 哲  gốc ở chữ chiết gồm bộ Thủ 扌 hợp với chữ Cân 斤 và bên dưới có chữ Khẩu 口. có nghĩa là chia chẻ, và chữ Khẩu: miệng nói; chữ Học là bắt chước, làm theo. Triết học là môn học luận lý có tính cách chia chẻ, phân tích làm cho sáng tỏ từng vấn đề.

- Còn ở Ấn Độ thì gọi (triết học) là Dar’sana ( Phạn ngữ) nghĩa là chiêm ngưỡng, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

-  Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp, theo tiếng Latinh từ triết học là Philosophia nghĩa là yêu thích sự thông thái, "ái trí", nó vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khác vọng tìm kiếm chân lý của con người.

Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến của các triết gia nổi tiếng về định nghĩa triết học, nhưng triết học ko vì thế mà tàn lụi nó vẫn phát triển một cách mạnh mẽ. Định nghĩa từ bài viết đầu ở bên trên tôi nêu ra đó là định nghĩa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin.

Thử xét đến một số định nghĩa quan điểm khác về triết học từ các Triết gia Tây phương như sau:

1. Triết học là việc đạt được sự hiểu biết.” (Plato)

2. Triết học là môn học nghiên cứu các hữu thể bằng sự tìm hiểu các nguyên nhân: chất thể, mô thể, thành phần và mục đích (Aristote)

3. Triết học là môn học nghiên cứu về nhận thức của con người và về các giá trị của nó (Descartes và Kant)

4  Triết học là công việc nắm bắt được sự hiện hữu của thực tại thông qua việc tư duy. (Hegel)

5  “Triết học là việc giải thích về thế giới sự vật nhằm để thay đổi chúng. (Karl Marx)

6 Chỉ có Triết học là hoạt động đúng thật sự khi đưa ra những lời khẳng định vể thế giới hiện thực cách minh định nhất, và ghi lại như là thế giới hiện thực đó thể hiện, để triết học không phải là một cái gì khác nhưng là cái bản sao và là sự phản tỉnh về thế giới hiện thực, đồng thời để triết học không quy hướng về chính nó, nhưng làm cho thế giới hiện thực vang vọng lên không ngừng sự hiện hữu của chúng...” (Francis Bacon)

7.  “Mục đích của triết học là để lập lại cách minh định, phổ quát và trừu tượng những ý niệm về cái bản chất nội tại toàn thể của vũ trụ, và từ đó thể hiện toàn thể cái bản chất nội tại của vũ trụ qua một hình ảnh phản chiếu nơi cái ý niệm thường hằng, bất biến luôn sẵn sàng để cho lý trí phân định, công việc này không gì khác hơn là chính triết học. (Arthur Schopenhauer)

8. Triết học, kể từ lúc khởi thủy, đã gồm hai mục tiêu khác nhau nhưng mật thiết quan hệ nhau: một đàng nhằm mục đích giải thích sự cấu tạo của thế giới; một đàng cố khám phá và giáo hóa đường lối sinh hoạt hoàn toàn hơn cho nhơn loại. (Russel)

9. Triết học là sự hiểu biết về các sự vật qua những căn do tối hậu của chúng, mà con người có thể lãnh hội được thông qua việc vận dụng lý trí”(Philosophy is the knowledge of all things through their ultimate causes, acquired through the use of reason) –(Triết học kinh viện)

10. Phàm nói triết học là nghĩ ngay đến một sự học chung, chủ cái đại thể, đại khái. Vậy xét một từng thứ nhất thì có thể giải triết học là sự nghiên cứu những nhẽ chung, những sự đại khái. ( Phạm Quỳnh- Triết học là gì Nam Phong tạp chí số 2 -1917).

11. Còn triết học hiện sinh trên cơ sở làm rõ tự do và trách nhiệm của con người với tư cách những phạm trù đạo đức , đã đóng góp và đưa ra những quan điểm mới mẻ về  triết học trong lĩnh vực đạo đức học (E.Husserl, M.Heidegger, K.Jaspers, J.P.Sartre and A.Camus).
…….

II. Chức năng của triết học

a. Chức năng phương pháp luận

Trong triết học người ta luôn thấy sự cố gắng lý giải về vũ trụ và con người, rồi trên cơ sở đó nó sẽ định hướng cho con người trong hành động, và như vậy triết học có chức năng phương pháp luận. Có nghĩa là xuất phát từ những quan điểm triết học nhất định, con người sẽ đi đến chỗ lựa chọn cách thức giải quyết vấn đề nhất định.
Như vậy nó ko phải là cái gì mơ hồ và xa rời thực tế mà nó gắn bó chặt chẽ với cuộc sống.

Nhưng triết học chỉ là những nguyên lý chung nhất cho nên chức năng phương pháp luận của nó được vận dụng rất khác nhau bởi những con người có trình độ khác nhau. Có thể anh A vận dụng khéo léo hơn anh B, anh C…..

Hầu như tất cả các lương y Trung Quốc đều được học triết lý Kinh Dịch, triết lý Âm Dương Ngũ hành nhưng ko phải ai cũng vận dụng nó thành công vào công việc trị liệu như y thánh Trương Trọng Cảnh- tác giả của 2 tác phẩm Đông Y kinh điển  nổi tiếng Thương hàn luận và Kim Quỉ yếu lược.

Từ chức năng định hướng có thể kết luận triết học có giá trị định hướng, nhưng giá trị này được khai thác khác nhau bởi những con người có tài năng khác nhau. Tuy nhiên, kết quả của triết học ko thể được kiểm tra bằng thực nghiệm như các bộ môn khoa học tự nhiên khác nên giá trị định hướng này xem ra cũng hạn chế.

Thí dụ người ta ko thể kiểm nghiệm được quan điểm của của Hegel “ phát triển của giới tự nhiên là sự phát triển của í niệm tuyệt đối”, hay sự tranh chấp về vật chất và tinh thần cái nào có trước giữa trường phái duy tâm và duy vật cũng chẳng thể chứng minh được?

Hơn nữa, triết học đã ko có những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào hết, tất cả đều dựa vào tư duy lí luận, quá trình qui nạp, diễn dịch, mà đã là tư duy thì sẽ có rất nhiều kiểu tư duy khác nhau, thậm chí có những tư duy quá cao siêu sẽ đồng nghĩa với sự ko tưởng  chả ai hiểu nổi.

Tuy nhiên, vai trò của triết học trong việc chỉ đạo các ngành khác bắt đầu hình thành, cũng bắt nguồn từ giá trị định hướng của nó, như nhà vật lý Born đã phát biểu: “ Vật lý học cần có triết học khái quát”.

Hay nói khác đi, triết học có chức năng phương pháp luận giúp các ngành khác tiết kiệm thời gian và công sức của mình trong nghiên cứu chuyên ngành, điều này thì chả ai có thể phủ nhận được. Nhưng vấn đề là vận dụng được nó cũng ko phải dễ dàng gì như tôi đã nói ở trên, cần có những tư duy siêu việt để khéo léo vận dụng những nguyên lý chung vào một ngành cụ thể nào đó như Y học, Vật lý học, toán học…….và như thế, giá trị của nó đã bị hạn chế.

Và để nâng cao giá trị của triết học, một số nhà nghiên cứu cho rằng việc nghiên cứu triết học cần được kết hợp với các khoa học chuyên ngành, sử dụng phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành đó, tuy nhiên tôi cho rằng đối tượng khác nhau thì phương pháp nghiên cứu phải khác nhau, ko thể lấy phương pháp thực nghiệm của Y học để nghiên cứu đối tượng siêu hình của triết học?

Ngoài chức năng chính phương pháp luận, triết học còn có một số những chức năng khác như:

b. Chức năng luận lý

Khi nghiên cứu triết học luận lý, thì tư duy con người được phát triển, giảm bớt những sai lầm do ngụy biện. Luận lý học là một môn học phục vụ đắc lực cho công cụ tư duy của con người. Chức năng luận lý cũng được xem như chức năng làm nền tảng cho chức năng phương pháp luận của triết học, luận lý học là công cụ của tư duy.

c. Chức năng Đạo đức

Có vẻ như triết học có chức năng nâng cao đạo đức con người thông qua bộ môn đạo đức học. Nhưng có rất nhiều quan điểm đạo đức khác nhau, đứng trên góc độ này thì đó là một hành vi đạo đức, nhưng qui chiếu sang một cơ sở khác thì nó trở thành hành vi phi đạo đức khi thực hiện, cụ thể như các vấn đề về phá thai, về tự quyết định cái chết cho 1 người nào đó để tránh cho họ khỏi đau đớn…..

Vấn đề này còn rất nhiều điều để tranh luận.

d. Chức năng Thẩm mỹ

Quan niệm về cái đẹp là một khía cạnh của triết học, Thuật ngữ mỹ học được triết gia Alexander Baumgarten người Đức sáng tạo ra, dùng để đặt tên cho tác phẩm Aestheticä (Mỹ học) của ông (1750–1758). Ông dùng từ "mỹ học" cho lý thuyết về nghệ thuật tự do hay khoa học về cái đẹp nhận thức được.

Cũng có rất nhiều quan điểm về thẩm mỹ, nó thay đổi qua các hình thái xã hội khác nhau. Bùi Văn Nam Sơn đã có một bài thuyết trình lí thú về hành trình mỹ học triết học từ Platon đến Adorno.

Tóm lại giá trị của triết học phụ thuộc vào giá trị của những yếu tố cấu thành của nó, nhưng vấn đề là có quá nhiều những quan điểm khác nhau về những yếu tố đó mà cho đến nay vẫn chưa có một sự hệ thống hóa đầy đủ và toàn diện.

Và sẽ rất mệt mỏi cho những ai nghiên cứu về triết học trong thời đại kinh tế khủng hoảng và lạm phát như hiện nay…..mọi thứ đều lên nhưng có 1 cái ko thể lên nổi do sức ép của ngoại cảnh 
Big Grin


 

Đối với bài viết này, 2 thành viên cảm ơn!
« Sửa lần cuối: 12/03/2012, 17:14:04 gửi bởi hoangnguyen »

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
Cụ đồ
*******
Offline Offline

Bài viết: 3,785

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1190
-Nhận Cảm ơn: 1116


Thà làm mọt sách chứ quyết không để mọt ăn sách


« Trả lời #2 vào: 13/03/2012, 14:50:02 »
Logged

Sư huynh sô nhiều thứ quá làm đệ muốn mất thở luôn rồi, chỉ riêng mảng Phật giáo thôi cũng làm đệ nổ cả cái đầu, ngâm cứu chắc cả đời chưa hết, giờ còn đến triết nữa chắc...ôi thôi sức người có hạn, chắc hẹn kiếp sau học tiếp....

Đối với bài viết này, 2 thành viên cảm ơn!
nguyenduong
*****
Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 549

Cảm ơn
-Cảm ơn: 103
-Nhận Cảm ơn: 309


Nhìn những mùa thu đi...


« Trả lời #3 vào: 13/03/2012, 15:47:45 »
Logged

Theo em Triết học là Hóc Triệt..để. Tức là nói ra câu nào hóc câu ấy..
Ngày còn đi học em vẫn nghe các thầy cô dạy Kinh Tế- Chính Trị & Triết học Mác Lê nin :
" có đấu tranh thì mới có phát triển", ấy thế mà họ lại vẽ ra một chế độ chỉ toàn là những sự a dua, nịnh bợ, đi bằng đầu gối, bằng tiền....

Rồi thì thất bại là mẹ thành công, mà thấy nhiều ngành nhiều cấp ở nước ta, thất bại là cha của thất bại tiếp theo..thất bại riết chẳng thấy thành công ở nơi mô tê...
Và cũng theo cái thuyết " những nước XHCN là những nước sở hữu tư liệu sản xuất và nền sản xuất tiên tiến hiện đại", thì đến nay, Bắc Triều Đình và Kuba đang là những minh chứng rõ rệt nhất..

 Not worthy Not worthy

Đối với bài viết này, 1 thành viên cảm ơn!

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp,
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con.
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« Trả lời #4 vào: 13/03/2012, 16:19:48 »
Logged

@Cụ Đồ: ăn cơm hoài cũng ngán, thì ta chuyển sang phở, hủ tiếu....đời là thế, tu hay ko tu đều phải chịu sự chi phối của các qui luật như nhau, khác chăng là sự cảm nhận thôi. Đăng bài Phật giáo hoài cũng sợ các bác ngán ngẩm, nên tớ chuyển hệ sang 1 món khác, nhưng xem ra món này ko hạp khẩu vị của các bác nên ko thấy nhiều bác tham gia Big Grin

@ bác nguyenduong: Đời cũng có kẻ tốt người xấu, tớ tin rằng cái tốt sẽ được phát triển, cái xấu sẽ bị đẩy lùi, chỉ là ko biết thời gian dài hay ngắn mà thôi.

Nhắc chuyện học kinh tế chính trị, tớ nhớ mãi thầy Trần Hồng Kỳ, giảng viên dạy tớ tại đại học kinh tế vào những năm 80, thầy giảng rất hay, rất logic, phần trên link với phần dưới vô cùng chặt chẽ, chỉ cần mơ mộng thả hồn ra cửa sổ giảng đường vài phút, xong nghe giảng tiếp thì sẽ ko hiểu nữa. Thầy có cuộc sống rất gương mẫu, nếu tất cả các CB công tác bên ngoài đều thấm nhuần tư tưởng XHCN như thầy thì Vietnam sẽ phát triển nhanh chóng, nhưng tiếc rằng từ lí thuyết đến thực tế là cả 1 khoảng cách xa vời vợi, muốn vượt qua cũng ko phải dễ, khi đời sống vật chất thiếu thốn thì con người dễ dàng bị chi phối và tha hóa bởi đồng tiền. Nhưng khi đời sống kinh tế phát triển hơn hy vọng rằng điều này sẽ được giảm bớt.

Đối với bài viết này, 3 thành viên cảm ơn!

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« Trả lời #5 vào: 14/03/2012, 11:50:13 »
Logged

Nhận định định nghĩa về triết học và tôn giáo của Phạm Công Thiện

Tôi có nhớ lại đọc trong 1 q sách hình như là " Im lặng hố thẳm" của tác giả Phạm Công Thiện (PCT), ông ta có định nghĩa triết học như sau: " Triết lý là hỏi. Triết học là hỏi về hỏi. Tôn giáo là hỏi về hỏi về hỏi".

PCT đã căn cứ vào định nghĩa gốc của triết học- từ phương Đông, phân tách chia chẻ ra, phân tích ra để tìm ra lý lẽ của sự vật. Trước khi phân tích, thì phải hỏi tại sao? có câu hỏi thì mới phân tích để trả lời, do vậy Triết lý là hỏi. Mà định nghĩa theo phương Tây thì cũng vậy, người ta thắc mắc về vũ trụ và nhân sinh nên người ta mới đi tìm câu trả lời, đời toàn là những câu hỏi tại sao? tôi có đọc bộ 1001 câu hỏi vì sao nhưng đọc song rồi vẫn thắc mắc, tại sao tôi phải đọc nó? Big Grin

Tôi đồng ý với định nghĩa về triết học của PCT, nhưng sang đến tôn giáo thì tôi ko đồng ý với định nghĩa của ông, "Tôn giáo là hỏi về hỏi về hỏi".

Tôn giáo là gì? dựa vào nguyên nghĩa tiếng La Tinh religare- là liên kết, ở đây ám chỉ sự nối kết con người với thần linh. Nhưng cũng có quan điểm tôn giáo bắt nguồn từ Religere-là chú ý, quan sát, đọc lại, con người ko chấp nhận những gì hiện có mà muốn đi tìm 1 cái gì cao cả hơn- đi tìm chân lí. Còn lại có quan điểm tôn giáo bắt nguồn từ Reeligere- sự chọn lại, con người có thể chọn thượng đế hay cái bản lai diện mục của chính mình để tìm kiếm và đặt trọn niềm tin.

Lĩnh vực của tôn giáo là huyền nhiệm. là bất khả tư duy, bất khả nghì. Đối với Thiên chúa giáo, đó là sự mặc khải của thần linh, trong sự mặc khải này ko có chỗ cho tư duy và lí luận. Và nhiều nhà thần học cho rằng Thiên chúa giáo ko có triết lí mà chỉ có tín lí- cần có niềm tin để sinh hoạt tôn giáo, tôn giáo là vùng ko thể suy tư mà đòi hỏi sự thể nghiệm, sự căng thẳng giữa triết lí và niềm tin cũng giống như sự căng thẳng giữa khoa học và triết học. Đức tin mang lại sự yên tĩnh tâm hồn, còn thắc mắc hoài sẽ đem đến sự mệt mỏi đầu óc.

Phật giáo cũng thế, Ngộ là 1 trạng thái do trực giác thể nghiệm, ko thể hiểu được bằng tư duy thông thường.

Và như vậy, cái gì còn hỏi được thì nó thuộc phạm vi triết học, cái gì hết hỏi được thì nó sẽ thuộc phạm vi tôn giáo. Chính vì thế, thượng tọa TS Bửu Chánh- phụ trách môn Vi diệu pháp đã thường xuyên nói với chúng tôi rằng " Chấp nhận thương "đao", đừng hỏi tại sao?" ta càng hỏi nhiều thì ta càng mệt mỏi, vì hỏi thì sẽ ko bao giờ có câu trả lời cho những vấn đề mang tính siêu hình của tôn giáo.

Như vậy, ranh giới giữa Triết học và Tôn giáo nằm ở chỗ này, còn hỏi được hay hết hỏi được rồi.

Triết học luôn đề cao chức năng của lý tính, trong Phương Pháp Luận, Descartes đã viết " nguyên tắc đầu tiên là ko chấp nhận một điều gì....." hay nói cách khác ko tin vào cái gì khi đầu óc chưa thỏa mãn và tiếp đến Kant đã phát triển ý tưởng này bằng cách cho ra đời 3 tác phẩm bắt đầu bằng 2 từ phê phán: " Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê phán lí tính thực tiễn (1788), phê phán khả năng phán đoán (1790)", ông ta muốn phê phán tất cả. Vai trò của con người được xác định lại, con người ko chấp nhận bất cứ sự áp đặt nào kể cả của thần linh.

Nhưng kết cục cũng chẳng giải quyết được gì, con người vẫn đau khổ vẫn già và phải chết, và khi chết cũng chẳng biết mình sẽ đi về đâu?

Khi Hỏi, khi đặt lại vấn đề, khi phê phán ta vẫn nằm trong phạm vi của Triết học. Khi ngộ đạo, khi được mặc khải bằng cách chấm dứt suy nghĩ, thể hiện trạng thái "phi tư tưởng" như Krishnamurti đề cập, ta thoát khỏi triết học và xâm nhập vào thế giới của tôn giáo.

Đó là sự khác biệt nền tảng giữa triết học và tôn giáo

Đối với bài viết này, 1 thành viên cảm ơn!
« Sửa lần cuối: 14/03/2012, 12:09:49 gửi bởi hoangnguyen »

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« Trả lời #6 vào: 14/03/2012, 16:37:18 »
Logged





Bắt chước bác nguyenduong minh họa bằng hình ảnh cho mát mắt Big Grin

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« Trả lời #7 vào: 16/03/2012, 11:27:20 »
Logged

Triết học và tự do của con người

Tự do là một phạm trù triết học phản ánh cái quyền suy nghĩ và hoạt động có mục đích của con người với tư cách là con người tồn tại trong vũ trụ và trong một xã hội nhất định.

Tự do có thể được phân chia thành:

-   Tự do bên trong: vói những suy nghĩ và ý định thể hiện sự suy nghĩ đó ra bên ngoài
-   Tự do bên ngoài: bao gồm nhưng hành vi chủ ý của con người

Theo dòng lịch sử của triết học đã cho thấy, triết học cổ đại nghiên cứu về bản chất và sự vận động của vũ trụ và vạn vật. Với vũ trụ quan của Aristote thì con người bị chìm trong vũ trụ .

Descartes với sự khám phá ra chủ thể tính con người và tự do, đã hé nhìn thấy đường đi của triết học. Đối với Descartes, không thể có triết học về vũ trụ mà chỉ có khoa học về vũ trụ và triết học về tinh thần.

Kant và Hegel còn đẩy xa tinh thần hơn nữa thành thử triết học vẫn luẩn quẩn trong thái độ ý niệm, coi con người là một vật thể.

Đến chủ nghĩa hiện sinh thì đặt ra vấn đề chủ thể tính và nhân vị tự do. Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tự do lựa chọn, tự do quyết định. Nếu sống lệ thuộc vào 1 cái gì đó thì Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là tầm thường. Và con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường đó thì phải vượt lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique). Độc đáo ở đây không có nghĩa lập dị mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc đáo là tự xác định nhân vị của mình.

Lịch sử triết học cũng đã cho thấy có 3 quan điểm chính về triết học tự do:

-   Con người chịu sự qui định của 1 sức mạnh tối cao vô hình (duy tâm)

-   Con người tự do, con người là chủ nhân và là thừa tự của nghiệp, con người tự quyết định số phận của mình ( triết học Phật giáo).
-   Con người là vật chất cũng như bao nhiêu loại vật chất khác (duy vật)

Triết học hiện sinh, với bộ mặt tiêu biểu là J.P.Sartre có thể được xem là một nhánh khác của triết học duy tâm, Sartre cho rằng “ Không có Chúa Trời”, ông ta tưởng vậy là thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm. Sartre cho rằng trời không sinh ra người, mà xã hội cũng ko qui định hành vi của con người, mà là người làm chủ lấy người. Con người của Sartre tự do lơ lủng giữa ko gian, và rôi một ngày nào đó, con người đó lo lắng, băn khoăn, dằng xé, mang trong mình một “nhận thức khổ sở”, nó khóc thét lên và nghĩ rằng nó là kẻ bại trận giữa cuộc đời phi lí. Đứng bên lề của Xã hội và ko chịu sự qui định của thần linh, con người đâm ra hoảng hốt.

Nếu mọi người đều có tâm trạng “lơ lửng” , buồn nôn như vậy, thì sự “tự do” kiểu đó sẽ dẫn xã hội bao gồm cả con người đó đi đến chỗ phá sản. Thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm đâu có dễ dàng như Sartre tưởng?

Cá nhân ko phải là một thành phần độc lập của xã hội, giống như Robinson trên hoang đảo, mà nó là con người xã hội, và dẫn đến kết luận rằng tự do cá nhân chịu sự chi phối của xã hội hay nói cách khác tự do cá nhân cũng chính là tư do xã hội.

J.P.Sartre là tiêu biểu cho một xu hướng muốn con người có quyền tự mình đặt ra nấc thang giá trị cho riêng mình, chứ không phải phục thuận một nấc thang giá trị tự do mà con người xã hội phải tuân thủ.

Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì con người vẫn có thể tự do suy nghĩ và chon cho mình một quan niệm sống nhất định, vấn đề là quan niệm đó đem lại hạnh phúc hay đau khổ mà thôi? Và lựa chon cũng là một nghệ thuật, thời gian sống của con người ko bao lâu, thì sự chọn lựa cũng phải mang tính nhất quán, tránh tình trạng thay đổi quan niệm sống 1 cách liên tục.

Cuộc đời con người ko phải là 1 phòng thí nghiệm, mà nhận thức của nó được xem như là đối tượng để mang ra thí nghiệm một cách liên tục......

Đối với bài viết này, 1 thành viên cảm ơn!

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
hoangnguyen
Bahussuta
Global Moderator
*****
Offline Offline

Bài viết: 4,961

Cảm ơn
-Cảm ơn: 1460
-Nhận Cảm ơn: 4398



« Trả lời #8 vào: 19/03/2012, 17:02:52 »
Logged

Triết học và Thần học

Thần Học là một môn học giúp con người phát hiện ra tương quan giữa con người và Thượng Ðế, nên Ðối tượng của Thần Học là Thượng Ðế. Thần học thường nêu câu hỏi là bản thể của thiên chúa là gì? Và đâu là cơ sở của các niềm tin tôn giáo.

Lịch sử chứng minh rằng đã có 1 sự gắn kết chặt chẽ giữa triết học phương Tây , cụ thể là triết học Hy Lạp với thần học Thiên chúa giáo. Các nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo sơ kỳ sử dụng vốn tri thức Hy Lạp phát triển cao có sẵn và họ biết một vận dụng nó một cách thành thạo? Sự thật, vài người trong số họ, chẳng hạn Justin Martyr  và Augustine đã là những triết gia ngoại đạo trước khi trở thành tín đồ Cơ Đốc giáo, Augustine dùng triết học Plato để diễn giải học thuyết Cơ Đốc giáo, Thomas Aquinas đã tập hợp cho Cơ Đốc giáo tất cả chân lý mà ông có thể tìm thấy nơi Aristotle. Ông  luôn tìm cách hòa hợp triết học của Aristole với thần giáo của thánh Augustine. Và người ta cho rằng Thánh Tôma là điểm gặp gỡ giữa triết học và thần học.

Tuy nhiên, nội dung của tư tưởng Hy Lạp và tín ngưỡng Cơ Đốc giáo không đồng nhất. Thượng Đế của các triết gia Hy Lạp không phải là Thiên Chúa của Abraham, Isaac, và Jacob, cũng không phải là Chúa Cha trong Cựu ước và tân ước. Thần học về tự nhiên của Plato và Aristotle không chứa đựng điều gì tương tự như những học thuyết đặc trưng Cơ Đốc giáo về sự sáng thế, và cứu rỗi. Tuy nhiên, nó vẫn chứa đựng một số chân lý căn bản về bản chất của sự tồn tại và biến dịch, vật chất, tinh thần, và cõi vĩnh hằng, tất cả đều có ý nghĩa sâu xa trong sự phát triển của tư tưởng Cơ Đốc giáo.

Và rồi, Thần học đã xâm nhập vào cuộc sống bằng những khẳng định đầy xác tín. Nhưng đó là ở cái thuở mà nhân loại đang mơ hồ về mặt nhận thức, nên những phán quyết của thần học nghe thật hấp dẫn và dễ tin. Thần học bằng những thế lực của mình đã buộc triết học vào vị thế nô tì để đảm trách vai trò chúa tể.

Nhiệm vụ của triết học chỉ là cố gắng chứng minh những gì mà ông chủ thần học khẳng định. Nó phải gom tất cả những hệ thống trả lời về những thắc mắc, suy tư của con người , đặt nó theo hướng đến mục đích ông chủ thần học đã định sẵn. Người ta gọi giai đoạn này là đêm trường Trung Cổ. Ko có ánh sáng, tất cả bị bao phủ bởi bóng đêm.

Nhưng không bao lâu sau, những thành công của khoa học thực nghiệm, đã tạo thành một cao trào phản kháng lan rộng khắp Âu châu, chống lại vị thế độc tôn của thần học. Lúc này những phần tử cơ hội chủ nghĩa, thích dựa hơi vào khoa học, như Didrot, Voltaire, Montesquieu và Jean Jacques Rousseau… nhân dịp này đã thổi bùng lên một làn sóng tư tưởng phản kháng, dọn đường cho những cuộc xuống đường làm cách mạng. Lý trí – triết học được đánh thức, ra khỏi loan phòng, nơi đã một thời cùng với ông “chồng hờ” thần học trưởng giả, thích ăn trên ngồi trước, “đồng sàng” nhưng “dị mộng”. Nói theo ngôn ngữ của Marcel Neuchs: “Từ vị trí nô lệ, thần học bảo gì làm nấy, triết học tự tuyên bố độc lập. Còn hơn thế nữa, nó tự chuyển sang vị thế quan tòa…”( Đăng Trình)

Nhưng vấn đề của tôn giáo lại thuộc về vấn đề niềm tin, thuộc về tự chứng là cái ko thể phân tích trả lời bằng công cụ của lí trí.

Có thể thấy qua lịch sử, thì thiên Chúa giáo thoát thai từ Do Thái giáo. Nó đưa ra một đường hướng cứu chuộc và một học thuyết về sự liên hệ đặc biệt giữa con người với Thiên Chúa. Cựu ước đã cho thấy đã có rất nhiều cuộc đối thoại giữa thượng đế và con người, và cũng từ điểm này, nên thần học gắn chặt với niềm tin của sự mạc khải. Mà nói đến mạc khải là nói đến đức tin.

Như vậy, “đức tin là điều kiện tiên quyết chứ chưa phải là điều kiện đủ của nhận thức. Con người không chỉ tin mà còn suy nghĩ về những điều mình tin. Tin đòi hỏi sự hiểu biết. Đức tin có trước lý trí xét về thời gian, nhưng lý trí cần hơn đức tin về thực chất công việc”. Và “con người là một thực thể có lý trí, nhưng không phải ai và lúc nào cũng giải quyết công việc mình bằng lý trí”. Lý trí con người bình thường dù hoàn hảo đến đâu vẫn không thể thấu hiểu hết mọi sự vật hiện tượng trong thế giới hữu hình, chứ chưa nói đến những thực tại vô hình. Do đó, nếu khước từ đức tin để chỉ vin vào lý trí, hoặc ngược lại, trong việc tìm biết chân lý, được ví như con chim chỉ có một cánh không thể bay lên được hay như con thuyền chỉ có một mái chèo chỉ xoay vòng tại chỗ. Phải trả lại vị thế ban đầu cho nó. “Niềm tin vượt quá lý trí ở đối tượng; còn lý trí thì vượt quá niềm tin ở phương cách, nên mỗi bên đều có lĩnh vực khác biệt, độc lập. Trong thực tế có những đối tượng cần cho triết học mà không cần cho thần học” (Piô Phan Văn Tình, Triết học thượng cổ Tây phương ảnh hưởng trên Kitô giáo, NXB Phương Đông)

Nếu nhìn từ bên ngoài, người ta tưởng rằng mối tương quan giữa triết học và thần học giống như một cuộc hôn nhân không hạnh phúc và những đụng độ giữa thần học, với những khẳng định chắc nịch của mình, và triết học cũng có những xác tín riêng, không đi đến hồi kết.

Lại có quan điểm cho rằng, tương quan giữa triết học và thần học hay giữa đức tin và lý trí là mối tương quan vốn dĩ có sự nâng đỡ, bổ túc cho nhau trong việc kiếm tìm chân lý, nhưng do không phân biệt địa hạt và không tôn trọng tính độc lập tương đối của nhau nên, trong quá khứ và cả hiện tại, đã và đang có những mối xung đột bất dung hòa giữa hai hình thái “tri thức” này.

Tuy nhiên theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng tuy giữa triết học và thần học có những mối tương quan nhưng ko bao giờ gặp gỡ được nhau, một đàng dựa vào lý trí với hệ thống những câu hỏi phức tạp, một đàng dựa vào niềm tin vào sự mạc khải, thì cho dù triết học cố gắng giải thích cho thần học thì sự giải thích đó cũng chỉ là gượng ép. Và các luận điểm giải thích đó là ko thể chứng minh được

Chỉ có Phật giáo, với công cụ thiền định, mới có thể đưa con người xâm nhập vào thế giới siêu hình bằng cách khai mở những luân xa, bằng cách đưa tâm thức con người chìm sâu vào các tầng lớp của thiền và trong các trạng thái từ thấp đến cao đó, con người có thể hiểu được những điều mà thần học ko thể giải thích được và triết học ko thể chứng minh.

Phải chăng Phật giáo là một cầu nối giữa Thần học và triết học? nhưng tiếc thay kết quả của sự tu tập ko thể diễn tả rõ ràng bằng ngôn từ cho những người khác hiểu được, ai tu nấy chứng mà thôi. Tôi cho rằng ko hề có sự mâu thuẫn giữa Phật học và Thần học, cũng như giữa Phật học và triết học.


Đối với bài viết này, 3 thành viên cảm ơn!

N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta
dichphongbn
*
Offline Offline

Bài viết: 10

Cảm ơn
-Cảm ơn: 0
-Nhận Cảm ơn: 0


« Trả lời #9 vào: 22/05/2012, 13:26:45 »
Logged

Mình chia sẻ chút tìm hiểu triết học giúp mình được điều gì, mình chưa tìm hiểu nhiều mấy cái triết học khác ngoài triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nghe các bên cãi nhau cũng mệt,,có thể đến mức nào đó thì sự phân tách giữa duy tâm và duy vật là không có ! Khi mà duy vật phát triển đến đỉnh cao và tất nhiên cũng so sánh với duy tâm đỉnh cao,chứ không phải là mấy cái duy tâm,duy vật tầm thấp.
Ngày xưa chưa có máy móc,khoa học các cụ nhà ta dùng tâm để cảm mọi sự,,mà hiện giờ vẫn chẳng có máy móc nào  tinh vi như bộ não của chúng ta,nên việc dùng tâm để cảm nhận mọi sự đã tạo ra những kết quả mà hiện tại khoa học vẫn khó giải thik theo tôi cũng là chuyện bình thường nếu hiểu theo nghĩa này.
Quan điểm về duy vật,,rõ ràng là quan điểm này cũng là quan điểm động,hoàn thiện dần theo thời gian,,cùng với sự phát triển của công nghệ. Như vậy là với hạn chế hiện tại nó chưa khám ra những kết quả mà dùng tâm để cảm(như trong phật giáo,đạo,,) là bình thường.
Chỉ có điều trên quan điểm thực tế:
Cuộc sống là quá trình phát triển dần dần,,về mặt công nghệ,sản xuất,nhận thức,,. Còn quá trình phát triển tâm linh có thể có những thời điểm đột phá(như chứng ngộ đạo phật,hay quan điểm của krisnarmuriti,,,chỉ có biết và không biết ở trong khoảng khắc,,thời gian ko giúp ích gì,,) .
Quan điểm đạo phật,krisnarmuriti,,theo mình là trọng nhiều về yếu tố duy tâm(rõ ràng đức phật sinh ra ở thời điểm sản xuất còn kém phát triển,,còn krisnarmuriti thì luôn dùng cái đầu của mình để phán xét mọi chuyện)) . Những quan điểm này rất sâu sắc,thú vị,,và giúp ích nhiều khi có vấn đề về tình cảm,cảm xúc ,,cũng như nhận biết những thay đổi nhạy cảm trong nhận thức. Nhưng rõ ràng là nó quá chú trọng vào cái tâm. Và có vẻ chưa xây dựng được  1 hệ thống dễ truyền đạt cho mọi người.
Quan điểm duy vật quan sát mọi sự trong sự phát triển dần dần,phá bỏ cái cũ tạo cái mới. Xây dựng hệ thống phương pháp nhận thức,làm việc rõ ràng. Giúp tăng năng suất,,sản phẩm tạo ra cho xã hội. Tạo ra điều kiện vật chất đề hoàn thiện cuộc sống,,tạo điều kiện để có thể hoàn thiện dần về mặt nhân sinh quan,,tạo sự hài hòa giữa mơ ước và hiện thực.
Chốt lại theo mình hãy học quan điểm duy vật biện chứng để có thể có hệ thống làm việc tốt. Còn học quan điểm đạo phật,krisnarmuriti để nâng cao khả năng nhạy bén,cảm nhận cuộc sống xung quanh cũng như con người mình để làm việc,kiểm soát bản thân tốt hơn. 2 quan điểm này sẽ hỗ trợ cho nhau để cùng hoàn thiện hơn.
Nguyen thuan
*****
Offline Offline

Bài viết: 568

Cảm ơn
-Cảm ơn: 2
-Nhận Cảm ơn: 191



« Trả lời #10 vào: 22/05/2012, 15:02:31 »
Logged

Triết học là gì? - Là cái đang hiện hữu ngoài kia.
Cả đời Heidegger cũng chỉ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đơn giản ấy.
bachlongnguyen
***
Offline Offline

Bài viết: 148

Cảm ơn
-Cảm ơn: 93
-Nhận Cảm ơn: 319



« Trả lời #11 vào: 22/05/2012, 15:21:54 »
Logged

Triết học là gì? - Là cái đang hiện hữu ngoài kia.
Cả đời Heidegger cũng chỉ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đơn giản ấy.
votay
"Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ cây đời là mãi xanh tươi"

Trí thông minh làm cho ta thấy mình khôn ngoan hơn chứ không phải để thấy người khác ngu dốt hơn.
thanh thuan
dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng- chẳng bằng kinh sử một vài kho
******
Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 1,193

Cảm ơn
-Cảm ơn: 318
-Nhận Cảm ơn: 585



« Trả lời #12 vào: 22/05/2012, 16:22:04 »
Logged

khi con người có những điều khó lý giải trong cuộc sống họ cảm thấy không được yên ổn, thoải mái, thế là họ tìm đến triết học. triết học là môn học về những thứ triết lý, chủ yếu để con người hiểu được bản chất của thế giới tự nhiên và xã hội, để tìm được sự thoải mái, an ổn hơn trong cuộc sống, nhưng mà triết lý thì toàn là những định nghĩa và lý giải phức tạp và nhức đầu nên càng làm cho con người mệt mỏi khi nghiên cứu, càng nghiên cứu càng thấy khó lý giải, khi con người có những điều khó lý giải.... Big Grin

hi, vui tí! Big Grin

thông tin tk vietcombank: chủ tk Nguyễn Thanh Thuận, số tk: 0601000446953, đt: 01236710718
Nguyen thuan
*****
Offline Offline

Bài viết: 568

Cảm ơn
-Cảm ơn: 2
-Nhận Cảm ơn: 191



« Trả lời #13 vào: 22/05/2012, 17:29:10 »
Logged

khi con người có những điều khó lý giải trong cuộc sống họ cảm thấy không được yên ổn, thoải mái, thế là họ tìm đến triết học. triết học là môn học về những thứ triết lý, chủ yếu để con người hiểu được bản chất của thế giới tự nhiên và xã hội, để tìm được sự thoải mái, an ổn hơn trong cuộc sống, nhưng mà triết lý thì toàn là những định nghĩa và lý giải phức tạp và nhức đầu nên càng làm cho con người mệt mỏi khi nghiên cứu, càng nghiên cứu càng thấy khó lý giải, khi con người có những điều khó lý giải.... Big Grin

hi, vui tí! Big Grin

Vậy xét cho cùng, trong ý của bác thì triết lý là Phạm Công Thiện hay Thích Ca Mâu Ni? Big Grin và lập trường triết học của bác là gì? Sleep
Em thì em nghĩ đơn giản hơn, triết lý là nước ta uống, cơm ta ăn, là không khí ta hít thở, là trái tim ta được yêu thương...Còn khi ta cô đơn nghiệm về cái sự ăn, sự uống, sự yêu ấy thì đó là triết học. Khái quát thật nhiều, kinh viện thật nhiều nhưng tựu lại là diễn giải cái sự giản đơn của lẽ đời ấy bằng khái niệm và thuật ngữ khác thôi mà. Triết học Tây phương, nghĩ cho cùng là sự thay thế cách hiểu này bằng cách hiểu khác về cùng một khái niệm. Cái Être của Sartre là cách hiểu khác về cái Dasein của Heidegger, và hiểu khác về cái Ý (Idea) của Hégel, cái en soi - Pour - soi của Husserl và Kant mà thôi, đó là còn chưa nói cái ontology, ôi ! mỗi đời triết học là một cách hiểu khác nhau từ một thuật ngữ do con người "bịa" ra để cố chứng tỏ mình không bế tắc (là lập thức besinnung và tự lập thức Selbstbesinnung). Tôi đọc nát đầu rồi cũng phải chấp nhận cái sợi dây nhiều nút ấy của triết Tây. Cái anh Đông Phương mình đôi khi rườm rà, rềnh ràng, và biền ngẫu một chút nhưng hóa ra lại hay. Hay là ở cái nhất quán trong tư tưởng chứ không giống như mấy anh bên trời Tây làm người đọc mệt não quá trời! Angry Angry
« Sửa lần cuối: 22/05/2012, 17:41:58 gửi bởi Nguyen thuan »
thanh thuan
dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng- chẳng bằng kinh sử một vài kho
******
Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 1,193

Cảm ơn
-Cảm ơn: 318
-Nhận Cảm ơn: 585



« Trả lời #14 vào: 22/05/2012, 17:55:03 »
Logged

Vậy xét cho cùng, trong ý của bác thì triết lý là Phạm Công Thiện hay Thích Ca Mâu Ni? Big Grin và lập trường triết học của bác là gì? Sleep
Em thì em nghĩ đơn giản hơn, triết lý là nước ta uống, cơm ta ăn, là không khí ta hít thở, là trái tim ta được yêu thương...Còn khi ta cô đơn nghiệm về cái sự ăn, sự uống, sự yêu ấy thì đó là triết học. Khái quát thật nhiều, kinh viện thật nhiều nhưng tựu lại là diễn giải cái sự giản đơn của lẽ đời ấy bằng khái niệm và thuật ngữ khác thôi mà. Triết học Tây phương, nghĩ cho cùng là sự thay thế cách hiểu này bằng cách hiểu khác về cùng một khái niệm. Cái Être của Sartre là cách hiểu khác về cái Dasein của Heidegger, và hiểu khác về cái Ý (Idea) của Hégel, cái en soi - Pour - soi của Husserl và Kant mà thôi, đó là còn chưa nói cái ontology, ôi ! mỗi đời triết học là một cách hiểu khác nhau từ một thuật ngữ do con người "bịa" ra để chứng tỏ mình khồn bế tắc (là lập thức besinnung và tự lập thức Selbstbesinnung). Tôi đọc nát đầu rồi cũng phải chấp nhận cái sợi dây nhiều nút ấy của triết Tây. Cái anh Đông Phương mình đôi khi rườm rà, rềnh ràng, và biền ngẫu một chút nhưng hóa ra lại hay. Hay là ở cái nhất quán trong tư tưởng chứ không giống như mấy anh bên trời Tây làm người đọc mệt não quá trời! Angry Angry
hi, em nói vui ấy mà, đã là triết lý thì phải lý luận chứ. nhưng triết học phật giáo thì không cố lý giải sự vật, hiện tượng mà đưa ra chân lý của cuộc sống. không cần phải mò mẫm lý giải vì đã có được sự giác ngộ, phá bỏ lưới vô mình nên không bị chướng ngại. triết lý tây phương thì theo em nghĩ trên cơ sở cái Tôi quá lớn, người đi sau muốn chứng minh mình giỏi hơn người đi trước và luôn muốn phủ định cái trước đó để tạo ra cái mới của mình. còn triết lý Đông phương thì trên cơ sở tôn trọng tiền nhân, tôn sư trọng đạo nên ít ai cãi lại thầy mình. bởi vậy đa phần là kế thừa và phát triển thôi.
lập trường triết học của em là ....hi hi ha ha! Big Grin

thông tin tk vietcombank: chủ tk Nguyễn Thanh Thuận, số tk: 0601000446953, đt: 01236710718
Trang: [1] 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

SACHXUA.NET © 2008
Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines